Trong bản báo cáo mới nhất “The Ocean and Cryosphere in a Changing Climate” (Đại dương và Băng quyển trong Nền Khí hậu đang Biến đổi) của IPCC (Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu của Liên Hiệp Quốc) có đề cập đến việc các đại dương trên thế giới đang ngày càng nóng hơn, bị a-xít hóa nhiều hơn, và kém hơn trong khả năng sản xuất oxygen. Mặc dù có hai chương về “Climate-change influences on Abrupt Changes, Irreversibility, Tipping Points and Extreme Events” và “Risks of Abrupt Change in Ocean Circulation and Potential Consequences”, điều mà IPCC chưa đề cập hoặc tránh né, chính là nguyên tắc của Định luật về độ tan của chất khí trong chất lỏng của Nhà Hóa học người Anh William Henry (1774-1836), còn gọi là Định luật Henry, hiện đang xảy ra trong lòng các đại dương khi nền nhiệt khí quyển và nhiệt độ nước biển càng ngày càng ấm lên.
Vậy Định luật Henry nói gì? Ở nhiệt độ không đổi, độ hòa tan của một khí trong chất lỏng tỷ lệ thuận với áp suất riêng phần của khí trên pha lỏng. Điều đó có nghĩa là khi cho trước một pha khí có chứa cấu tử phân bố tiếp xúc với một pha lỏng ở điều kiện nhiệt độ và áp suất không đổi, thì sẽ có một lượng xác định các cấu tử phân bố trong pha khí khuyếch tán/được hấp thụ (absorption) vào pha lỏng do tính chất hòa tan có chọn lọc, và đến một lúc nào đó, hệ sẽ đạt trạng thái cân bằng động (dynamic equilibrium) ở điều kiện nhiệt độ và áp suất đó.
Cần giải thích cho các bạn hiểu rằng:
– Pha là một phần đồng thể của hệ mà thành phần hóa học và tính chất vật lý tại tất cả các điểm của pha đều đồng nhất và được tách ra khỏi các phần đồng thể kia của hệ bằng những bề mặt phân chia rõ ràng.
– Còn hấp thụ (absorption) là quá trình hút khí (hoặc hơi) bằng chất lỏng (dung môi), trong đó vật chất di chuyển từ pha khí vào pha lỏng, nguyên tắc là dựa trên độ hòa tan có chọn lọc của cấu tử khí vào dung môi.
Như vậy, quá trình chuyển pha và thay đổi thành phần hòa tan/hấp thụ giữa chất khí và chất lỏng sẽ diễn ra tương ứng với sự thay đổi của nhiệt độ, áp suất và tính chất dung môi, chẳng hạn như: ở nhiệt độ 273°K (-0.15°C), hằng số hòa tan Henry của CO₂ là 3.349,51 x 10⁻⁵. Trong khi đó, ở nhiệt độ 298°K (24,85°C), hằng số hòa tan Henry của CO₂ chỉ còn 1.407,76 x 10⁻⁵.
Bây giờ, chúng ta sẽ chuyển qua tìm hiểu về vấn đề trao đổi hóa học carbon (carbon chemistry) giữa khí quyển và đại dương trên hành tinh Trái Đất. Trong một báo cáo được đăng trên tạp chí Science, do Gs. Nicolas Gruber và các đồng nghiệp chuyên gia trong lĩnh vực Vật lý Môi trường thuộc Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ (ETH Zürich) thực hiện, họ đã khám phá ra rằng, đại dương đã hấp thụ từ khí quyển một khối lượng 34 tỷ tấn carbon do con người thải ra trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2007. Con số này tương đương với 31% tổng lượng phát thải CO₂ của nền văn minh nhân loại trong cùng thời điểm ấy.
Gs. Nicolas Gruber còn cho biết những điểm quan trọng sau đây liên quan đến Định luật Henry được rút ra từ nghiên cứu:
1. Tỷ lệ khí CO₂ được hấp thụ vào các đại dương vẫn còn tương đối không đổi khi so sánh với thời điểm từ cách đây 200 năm, nhưng về thực chất thì khối lượng hấp thụ tuyệt đối đang tăng dần lên. Đó là vì mật độ CO₂ trong bầu khí quyển đang tăng lên, vì các nền công nghiệp của con người vẫn tiếp tục xả thải không giới hạn. Quá trình hấp thụ này tuân theo phương trình phản ứng hóa học (giữa CO₂ và nước/H₂O): càng nhiều CO₂ có trong bầu khí quyển, càng nhiều khí CO₂ sẽ được hấp thụ vào đại dương – cho đến khi nước biển hoàn toàn bão hòa.
2. Số lượng CO₂ hấp thụ vào trong lòng biển không chỉ hoạt động theo mức tăng CO₂ trong bầu khí quyển, mà còn phụ thuộc rất nhạy vào các biến đổi khí hậu và phản ứng dây chuyền đang xảy ra trên hành tinh này. Bất cứ thay đổi nào về dòng chảy hải lưu, nhiệt độ nước biển, nhiệt độ nền khí quyển… Gs. Gruber phát hiện ra rằng, khả năng hấp thụ CO₂ ở khu vực biển Bắc Đại Tây Dương kém hơn so với Nam Đại Tây Dương, và điều tương tự cũng xảy ra với Thái Bình Dương.
Đó là nghiên cứu mới nhất của tỷ lệ hấp thụ carbon dioxide vào các đại dương: ở mức 31% (1/3 tổng lượng CO₂ do loài người thải ra). Có nhiều nghiên cứu khác nói rằng, tỷ lệ này lên đến khoảng 40%, như trong bài nghiên cứu được đăng trên Tập san Khoa học Nature.
Trong khi đó, theo các nhà khoa học thuộc Đại học Yale (Hoa Kỳ), chúng ta biết rằng, các đại dương đang hấp thu một lượng nhiệt khoảng từ 0,5 đến 1 watt trên mỗi mét vuông mặt biển trong cả thập niên vừa qua, và từ năm 1990 đã tích lũy một khối năng lượng khổng lồ hơn 2 x 10²³ joules – tương đương với vụ nổ của 5 quả bom nguyên tử loại đã thả xuống thành phố Hiroshima trong mỗi giây. Và nếu tính trên bình diện toàn cầu, phần nước biển trên bề mặt đại dương đã có thể hấp thu từ 24% đến 58% lượng nhiệt so với nhận định trước đây, với các con số thống kê như sau kể từ năm 1971:
– Độ sâu từ 500m – 2.000m: ấm lên 0,002°C/năm.
– Độ sâu từ 500m – 75m: ấm lên 0,005°C/năm.
– Độ sâu trên 75m: ấm lên 0,01°C/năm.
Như vậy, chính đại dương đã giữ cho loài người và mọi sự sống trên hành tinh này còn tồn tại được từ ít nhất 10 năm trước, khi có khả năng thu nhận một lượng khí CO₂ và nhiệt khổng lồ được tạo ra do việc xả thải khí gây hiệu ứng nhà kính của các nền công nghiệp lớn. Hãy tưởng tượng với một hành tinh không có đại dương như Sao Kim, Sao Hỏa, thì với mật độ carbon dioxide cao như thế trong bầu khí quyển, sự sống đã không có cơ hội sinh ra và tồn tại. Và do đó, khi vượt qua giới hạn chịu đựng của sinh quyển này, chuyện đại dương trả nhiệt và CO₂ về lại cho bầu khí quyển hành tinh và loài người là điều không thể tránh được. Chúng ta cũng thấy rằng, mọi kịch bản và con số của IPCC đều quá bảo thủ, không phản ánh đúng mức so với thực tế, và xem nhẹ vấn đề. Chắc chắn khối lượng xả thải khí nhà kính của các nền công nghiệp hàng đầu thế giới là Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Châu Âu, Australia, Brazil, Ấn Độ… còn lớn hơn rất nhiều lần và nó đã có thể nâng mật độ CO₂ trong khí quyền lên hơn cả con số 415ppm hiện nay, nếu không có sự giúp đỡ cân bằng của đại dương.
Thế nhưng, cái giá phải trả cho việc hấp thụ nhiệt và CO₂ của đại dương là rất kinh khủng, bao gồm các cơn sóng nhiệt ngầm dưới đáy biển gây chết các rạn san hô lớn (Rạn Barrier Reef ngoài khơi bờ biển Đông Bắc Australia), nồng độ acid của nước biển tăng cao làm suy giảm tỷ lệ vi sinh thực vật (phytoplankton) và gây sụp đổ hệ sinh thái đại dương từ những đơn vị căn bản nhất. Đại dương cũng đang nhả nhiệt trở lại bầu khí quyển qua các cơn bão khủng khiếp tàn phá cả chính hoạt động sống của sinh vật dưới đáy biển.
Ở đây, chúng tôi chỉ quan tâm đến các yếu tố sau đây mà khi bị đẩy qua điểm tới hạn, thì những gì đã nằm sẵn trong nước biển do lòng tham của con người bơm vào sẽ khiến cho mọi nỗ lực giải quyết tình hình trồng cây xanh, ngưng xả thải khí nhà kính của họ trở thành vô nghĩa, một khi các giới hạn bị vượt qua.
A. Thứ nhất, vi thực vật đơn bào (phytoplankton) là đơn vị chịu trách nhiệm hấp thu phần lớn carbon dioxide trong nước biển, chuyển vào cơ thể chúng và sau đó lắng xuống đáy biển khi chúng chết đi. Ngoài ra, tất cả mọi chủng loài phytoplankton trên đại dương đang đóng góp hơn 42% lượng oxygen vào bầu khí quyển Trái Đất (chúng chính là cơ chế tạo ra oxygen của hành tinh, chứ không phải cây rừng đâu nhé). Những vi thực vật nhỏ bé này lại đang nắm quyền lực vô cùng lớn, điều tiết nền khí hậu của cả hành tinh thông qua việc hấp thu carbon dioxide và thải ra oxygen. Bất cứ chuyện gì xảy ra cho chúng (giảm sút quần thể, ức chế hoạt động trao đổi chất, sự thay đổi môi trường nước biển) sẽ tác động rất lớn đối với hiệu suất này. Hiện nay, có một số nghiên cứu khoa học cho biết số lượng phytoplankton trong nước biển đang suy giảm nghiêm trọng, và ngay cả hoạt động hấp thu CO₂ của chúng cũng bị ức chế do nhiệt độ trong lòng đại dương đang tăng cao. Điều đó có nghĩa là gì? Bằng việc tiếp tục bơm khí nhà kính vào bầu khí quyển và đẩy nền nhiệt toàn cầu lên cao, loài người đang giết chết một lực lượng vĩ đại giúp giải quyết chính vấn đề của họ.
B. Thứ hai, như Định luật Henry ở trên đã quy định, khối lượng hòa tan của CO₂ trong nước biển phụ thuộc vào nhiệt độ của dung môi: 0,08g/kg nước biển/độ C nếu dưới 20°C và giảm xuống còn một nửa ở mức 0,04g/kg nước biển/độ C nếu trên 20°C. Như vậy, nếu tính sơ lược tổng diện tích bề mặt của đại dương ở con số 360 triệu km², hay 360 nghìn tỷ m², thì tổng khối lượng nước có độ sâu 1m trên bề mặt đại dương sẽ là 360 nghìn tỷ tấn. Hãy thử tính toán xem nếu nước biển thay đổi chỉ 1/10 của 1 độ C về nhiệt thì sẽ ảnh hưởng đến độ hòa tan carbon dioxide như thế nào nhé:
360 × 10¹² tấn = 360 × 10¹⁵ kg × 0,08g/kg nước biển = 28,8 × 10¹⁵g CO₂ (hay 28,8 nghìn tỷ kg).
Khối lượng này tương đương với 780 tỷ tấn carbon, vì 3,7g CO₂ = 1g carbon. 780 tỷ tấn carbon chiếm hơn 86% tổng khối lượng 900 tỷ tấn carbon mà nền công nghiệp của loài người đã thải ra kể từ trước cuộc cách mạng công nghiệp, năm 1750.
Đấy mới chỉ là con tính sơ sơ của độ sâu 1 mét nước biển và sự thay đổi 1/10 của 1 độ C mà thôi. Trong khi đó, nhiệt độ trung bình của các đại dương trên toàn cầu đã tăng +1,07°C so với mức nhiệt trung bình của cả thế kỷ 20.
Trong tháng 7/2019, một điểm tới hạn (tipping point) quan trọng trong nền khí hậu toàn cầu đã bị vượt qua. Nhiệt độ bề mặt nước biển trong tháng 7/2019 ở Bắc Bán Cầu đã là +1,07°C so với mức nhiệt trung bình của cả thế kỷ 20, như đã được minh họa trong hình số 1, chỉ ra khuynh hướng nhiệt độ nước biển sẽ tăng thêm +5°C vào năm 2033 so với mức trung bình của thế kỷ 20.

Tại sao +1°C so với nền nhiệt trung bình của thế kỷ 20 lại là một điểm tới hạn quan trọng đối với bề mặt nước biển ở Bắc Bán Cầu? Chúng ta hãy cùng nhìn vào nơi mà nhiệt lượng toàn cầu đang gia tăng.
Hiện các đại dương hấp thu hơn 90% nhiệt lượng toàn cầu như được minh họa trong hình số 2. Do lượng khí nhà kính ngày càng tăng cao vì nền công nghiệp của con người thải ra, các đại dương sẽ tiếp tục nóng lên, và với khả năng hấp thu nhiệt khổng lồ của mình, biển đã mất hàng nhiều thập kỷ đã hấp nhiệt trước khi điểm tới hạn của môi trường này bị vượt qua.

Vào tháng 7/2016, điểm tới hạn này đã chạm mức +0,99°C. Tháng 7/2017, sự bất thường của nhiệt độ nước biển đã nằm trên ngưỡng tới hạn, tại mức +1°C. Tháng 7/2018, nhiệt độ bề mặt nước biển có nguội đi một chút, nhưng vào tháng 7/2019, điểm tới hạn đã bị vượt qua, khi sự bất thường về nhiệt độ đã là +1,07°C so với mức nhiệt trung bình của cả thế kỷ 20.

Biển băng ở Bắc Cực đã từng hấp thu 0,8% nhiệt lượng toàn cầu (từ năm 1993 đến năm 2003). Các dòng nhiệt ở đại dương cứ tiếp tục chảy vào Bắc Băng Dương, được tải bởi các dòng hải lưu, như được minh họa trong hình số 3. Khi nhiệt lượng chạm mức đỉnh ở Bắc Băng Dương, nó làm tan băng từ phía dưới lòng biển.
Hình số 4 kết hợp hai thời điểm về mức nhiệt bề mặt biển vào ngày 13/8/2019 (vùng cực bên trái) và ngày 9/9/2019 (vùng cực bên phải). Khu vực mang màu xanh dương nhẹ chỉ báo nơi có nhiệt độ nước biển ở mức 0°C. Khu vực màu này đã lấn lên phía trong vùng cực vào tháng 9/2019, do các dòng sông cứ tiếp tục chuyển nước ấm xâm nhập Bắc Băng Dươn từ Bắc Đại Tây Dương và Bắc Thái Bình Dương.

Hình này cũng cho thấy nhiệt độ bề mặt nước biển ở quần đảo Svalbard (Na Uy) đã là 20,4°C (68,7°F) tại nơi được đánh dấu vòng tròn màu xanh lá cây vào ngày 13/8/2019 (hình bên trái), và 20,3°C (68,5°F) vào ngày 9/9/2019 (hình bên phải), cho thấy nhiệt độ nước biển ở đây đã cao như thế nào ngay bên dưới bề mặt, khi nó di chuyển vào Bắc Băng Dương. Nói cách khác, càng nhiều nhiệt hơn nữa vẫn đang xâm nhập vào Bắc Băng Dương.
Từ giữa tháng 8/2019, nguồn nhiệt của đại dương đã không còn tìm được bất cứ biển băng nào để làm mát và tan băng, vì các biển băng có độ dày vừa đủ ở bên dưới bề mặt biển ở đây đã biến mất hoàn toàn. Chỉ còn tồn tại một lớp băng mỏng trên bề mặt vì nhiệt độ không khí đã không đủ nóng và xâm nhập xuống lớp băng bề mặt này để làm tan từ bên trên.
Điều này cho thấy chức năng làm tấm đệm hấp thu nhiệt, làm mát và tan băng của biển băng ở Bắc Cực đã hoàn toàn gần như biến mất. Chừng nào băng còn hiện diện trong nước, biển băng vẫn sẽ tiếp tục hấp thu nhiệt khi nó tan ra, và do đó nhiệt độ nước biển sẽ không gia tăng nhanh chóng. Lượng nhiệt được hấp thu bởi hiện tượng băng tan chủ yếu xảy ra khi nó làm tăng nhiệt của một khối lượng nước khổng lồ từ mức 0°C đến 80°C.
Một hình khác trong status này, được công bố bởi NOAA (Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Hoa Kỳ) về dữ kiện nhiệt độ nước biển từ năm 2007-2019, cho thấy nhiệt lượng đang gia tăng tại bề mặt nước biển ở Bắc Bán Cầu kể từ năm 2012 đang khiến cho chức năng đệm nhiệt của biển biến mất và điểm tới hạn +1°C bị vượt qua vào năm 2019.
Một khi chức năng đệm nhiệt này mất đi, lượng nhiệt được bơm thêm vào Bắc Băng Dương sẽ phải di chuyển đi đâu đó khác. Vào ngày 16/9/2019, độ phủ của biển băng ở Bắc Cực chỉ là 3,99 triệu km², là mức phủ thấp nhất lịch sử ghi nhận trong cùng kỳ của năm, chỉ sao thời điểm ngày 16/9/2012, khi độ phủ chỉ là 3,18 triệu km².

Biển băng ở Bắc Cực sẽ sớm tăng độ phủ trở lại trong những tháng cuối năm, hàn kín lớp nước bên trên, và điều đó có nghĩa là ít nhiệt lượng từ đại dương có khả năng di chuyển ra bên ngoài bầu khí quyển hơn.
Tình huống này xuất hiện cùng thời điểm mật độ khí methane đang tăng cao trên toàn cầu. Mật độ trung bình của khí methane trên toàn cầu đã chạm mức 1.911 phần tỷ vào ngày 3/9/2019, như trong một hình dưới đây. Điều đó cho thấy mối nguy hiểm xảy ra khi mà lượng nhiệt trong đại dương sẽ xâm nhập vào các lớp trầm tích bên dưới đáy biển Bắc Băng Dương, gây ra một đợt giải phóng methane khổng lồ tại đây.
Thật đáng lo ngại khi lượng methane ở thành phố Barrow, Alaska, đã tăng cao trong thời gian gần đây. Hình số 4 cho thấy mật độ khí methane tại đây đã chạm mức đỉnh hơn 2.500 phần tỷ. Hình ảnh từ vệ tinh MetOp-1 cho biết tình trạng của nền khí hậu toàn cầu vào buổi chiều ngày 13/9/2019, khi mà mật độ khí methane đạt mức cao đến 2,605 phần tỷ ở độ cao khí quyển 586 mb.

Vào ngày 3/4/2019, nhiệt độ bề mặt đại dương gần đảo Svalbard ấm lên 16-18°C, được chỉ báo bởi vùng màu vàng trên bản đồ dưới đây. Đây chính là một chỉ số cho biết nước đã ấm như thế nào bên dưới mặt biển.
Và mức nhiệt độ này là ấm hơn khoảng 14°C so với thời kỳ năm 1981-2011.

Khối nước ấm được dòng hải lưu Gulf Stream chuyển đến Bắc Băng Dương sẽ đe dọa tính ổn định của lớp trầm tích dưới đáy biển đang ngậm methane (hiện tượng hydrate hóa) và gây nên sự bùng phát giải phóng một lượng lớn khí methane (theo Ts. Natalie Shakhova, khoảng 50 Gton (tỷ tấn) methane sẽ được giải phóng từ đáy biển Bắc Băng Dương, đủ sức để nâng nền nhiệt toàn cầu lên +18°C).
Đó là lý do tại sao trong nghiên cứu được nêu ở đầu bài viết này của Gs. Nicolas Gruber, khả năng hấp thụ CO₂ ở khu vực biển Bắc Đại Tây Dương kém hơn so với Nam Đại Tây Dương, và điều tương tự cũng xảy ra với Thái Bình Dương, vì nền nhiệt Bắc Bán Cầu đang nóng lên nhiều hơn so với Nam Bán Cầu. Và chắc chắn, vùng biển khu vực xích đạo và cận xích đạo (từ vĩ tuyến 0° đến 23,5° Bắc/Nam hai bên nửa bán cầu) sẽ hấp thụ CO₂ ít hơn so với vùng biển ôn đới và cận cực. Khuynh hướng này sẽ ngày càng tăng lên về diện tích, nếu biên độ xích đạo được mở rộng do nền nhiệt toàn cầu đang tăng lên nhanh chóng. Con người đã chứng kiến nền nhiệt Bắc Âu chạm mức hơn 30°C, Alaska 33°C trong mùa hè vừa qua. Những nơi trước đây nước biển đang mát sẽ ấm lên nhanh chóng, và do đó, khi vượt qua ngưỡng nhiệt độ thì đẩy ngược một lượng lớn carbon dioxide đã hòa tan trong nước biển trở lại khí quyển. Còn những nơi đã nóng sẵn sẽ không còn khả năng hấp thụ CO₂ hiệu quả như lúc trước nữa.
C. Thứ ba, nhiệt độ nước biển tăng sẽ làm băng ở hai cực của Trái Đất tan ra, dẫn đến hiện tượng suy giảm độ mặn của nước biển theo tùy khu vực nhất định, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến các dòng hải lưu trong hệ thống băng tải điều hòa nhiệt trong lòng các đại dương toàn cầu (global ocean conveyor belt). Đây chính là “gót chân Achilles” của nền khí hậu hành tinh. Một khi nước ngọt có độ mặn thấp nhưng nhiệt độ cao hơn do băng tan ra tại khu vực Bắc Băng Dương tràn xuống Bắc Đại Tây Dương, sẽ làm chậm lại tốc độ chảy của một trong những dòng hải lưu lớn nhất của đại dương này là Gulf Stream, gây xáo trộn nhiệt độ của dòng nước ấm trên bề mặt biển đang chảy vào vùng cực, gây đình trệ hệ thống dòng biển và ảnh hưởng mạnh mẽ đến khí hậu của Bắc Âu và bờ Đông nước Mỹ. Điều tương tự cũng sẽ xảy ra với Thái Bình Dương và khu vực Nam Đại Tây Dương một khi băng ở hai cực tan ra đủ để tác động đến hệ thống băng tải nhiệt – tỷ trọng này.
Một khi các dòng nhiệt – tỷ trọng (thermalhaline) trong đại dương bị chậm lại và ấm lên bất thường, ngay trong lòng biển sẽ xuất hiện các đột biến lớn:
1. Do dòng chảy chậm lại và ấm lên bất thường, nước biển tĩnh lặng, các động vật phù du (zooplankton) và tảo độc sẽ có cơ hội phát triển bùng nổ, dẫn đến mức tiêu thụ rất cao lượng oxygen hòa tan trong nước biển, gây cạn kiệt nguồn oxygen hòa tan trong nước biển, và dẫn đến một cuộc tuyệt chủng hàng loạt sinh vật biển. Nồng độ carbon dioxide trong nước biển cũng nhanh chóng đạt mức bão hòa, khiến đại dương sẽ không hấp thụ thêm khí này nữa.
2. Các dòng hải lưu chậm lại, ấm lên, thậm chí dừng hẳn sẽ sẽ làm cho đại dương không thể thực hiện chức năng chuyển tải, điều hòa nhiệt lượng và độ mặn. Chính điều đó càng làm trầm trọng hơn các tình trạng của biến đổi khí hậu, như tốc độ băng tan chảy, nhiệt độ nước biển ở một số khu vực tăng cao bất thường, dẫn đến hiện tượng giải phóng CO₂ ra khỏi đại dương theo như Định luật Henry đã nêu.
3. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa lớp nước bề mặt (nóng hơn) và các lớp nước sâu hơn (lạnh hơn) ở ngay trong lòng đại dương, mà giờ đây bị cô lập bởi sự chậm lại của các dòng hải lưu, sẽ khiến đại dương suy giảm hoặc ngừng hẳn chức năng hấp thụ thêm khí carbon dioxide, mà càng giải phóng chất khí này nhiều hơn vào bầu khí quyển, từ đó đẩy nhanh tiến trình nóng lên toàn cầu.
4. Nếu Dòng Đối lưu Kinh tuyến Đại Tây Dương AMOC (Atlantic Meridional Overturning Circulation) – có khả năng tải nhiệt và tỷ trọng của 1/4 diện tích đại dương trên thế giới chậm lại ở mức đủ để gây ra tác động lớn về mặt khí hậu, thì có thể toàn bộ Bắc Bán Cầu (bao gồm Bắc Mỹ và Châu Âu) sẽ lạnh đi, còn nhiều phần của khu vực Nam Bán Cầu (Châu Phi, khu vực Địa Trung Hải, bờ Đông lục địa Nam Mỹ) sẽ nóng lên gấp bội phần.
Hiện đã có những bằng chứng khoa học cho thấy tốc độ chảy thực (net flow) của dòng chảy nhiệt – tỷ trọng đã giảm xuống đến 30% so với thập niên 1950, hoặc dòng chảy trên Đại Tây Dương đã chậm lại so với năm 1975.
Băng ở Greenland cũng đang tan rã với tốc độ rất nhanh, bơm vào lòng khu vực Bắc Đại Tây Dương hơn 300 tỷ tấn nước băng tan/năm trong những năm gần đây.
Giờ đây, không phải chỉ con người, mà cả thiên nhiên, cụ thể là đại dương, sẽ tiếp tục giải phóng carbon dioxide. Giống như một lon nước ngọt chứa đầy khí gas CO₂ và để trong xe hơi đóng kín cửa phơi ngoài nắng, sau một thời gian nóng lên nhanh chóng, lon nước sẽ nổ tung vì lượng khí thoát ra khiến áp suất tăng vọt.
Chúng ta sẽ chứng kiến mật độ carbon dioxide có trong bầu khí quyển cứ tăng mãi, cho dù loài người hô hào nhau đi trồng hàng tỷ cây xanh, dừng hoàn toàn việc phát thải khí nhà kính, hay sử dụng công nghệ hút carbon dioxide từ môi trường. Tất cả chỉ là vô nghĩa mà thôi.
Vì lòng tham lam và kiêu ngạo, con người đã đẩy một trong những sinh quyển lớn nhất hành tinh là đại dương vượt qua giới hạn chịu đựng của nó, khiến cả một hệ thống tiêu chuẩn vật lý – hóa học đã tồn tại hàng triệu năm phải sụp đổ và tạo ra các phản ứng khổng lồ nhằm thích nghi với điều kiện mới.
Cho đến bây giờ, các nền công nghiệp lớn trên thế giới vẫn tiếp tục xả thải không ngừng, và cho dù điều gì có xảy ra, họ vẫn muốn tăng trưởng kinh tế, giữ vững quyền lực chính trị, cạnh tranh thương mại tối đa để thu lợi nhuận.
Vâng, cứ tiếp tục đi nhé, loài homo sapiens. Một bên cứ kinh doanh tới bến, còn bên kia cứ hô hào trồng cây, chuyển sang sử dụng năng lượng “xanh và sạch”, thay đổi nếp sống… Ở trên đầu bọn họ, bầu trời đang sụp đổ không cách gì ngăn được. Đó chính là biểu hiện lớn nhất của phù vân và phận người.
Nào, hãy để thiên nhiên cùng loài người bật lon Coca-Cola, để ăn mừng cuộc đại tuyệt chủng lần thứ 6 thôi.
👉Ocean sink for human-made carbon dioxide measured
👉Carbon Dioxide And The Ocean: Temperature Is Driving CO2, And Not Vice Versa
👉Global Ocean Surface Water Partial Pressure of CO2 Database: Measurements Performed During 1968–2008 (Version 2008)
👉Global surface-ocean pCO2 and sea–air CO2 flux variability from an observation-driven ocean mixed-layer scheme
👉Global air-sea flux of CO2: An estimate based on measurements of sea–air pCO2 difference
👉Variation of CO2 partial pressure in surface seawater in the equatorial Pacific Ocean
👉Global sea–air CO2 flux based on climatological surface ocean pCO2, and seasonal biological and temperature effects
👉‘Completely Terrifying’: Study Warns Carbon-Saturated Oceans Headed Toward Tipping Point That Could Unleash Mass Extinction Event
👉Breaching a “carbon threshold” could lead to mass extinction
👉Oceans May Absorb More Carbon Dioxide
👉Henry’s Law
👉Carbon Dioxide and Henry’s Law
👉The role of the thermohaline circulation in abrupt climate change
👉Global Conveyer Belt: Ocean Current Slowing
👉The role of the thermohaline circulation in abrupt climate change
👉Slow-Motion Ocean: Atlantic’s Circulation Is Weakest in 1,600 Years
👉Scientists Say Ocean Circulation Is Slowing. Here’s Why You Should Care.
👉Climate Change’s Worst Outcome: Thermohaline Shutdown
👉How Climate Change Could Jam The World’s Ocean Circulation
👉Oceans Do Us a ‘Huge Service’ by Absorbing Nearly a Third of Global CO2 Emissions, but at What Cost?
_____Ben_____
2025-02-28 12:56:38 +0000 UTC